Tiếng thơ xin thân chào quý vị ! Xin trân trọng giới thiệu những áng thơ hay được bay bổng trong những nét nhạc tinh tế và giọng ngâm trữ tình.Được cập nhật thường xuyên. Xin quý vị hãy thưởng thức !
Xin trân trọng giới thiệu tới quý vị : Lỡ bước sang ngang(trích thơ Nguyễn Bính) Ngâm thơ NSUT Trần Thị Tuyết.
Em ơi! em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Hôm nay xác pháo đầy đường
Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng
Chuyến này chị bước sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây
Rượu hồng em uống cho say
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng
Rồi đây sóng gió ngang sông
Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ
Miếu thiêng vụng kén người thờ
Nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em
Đêm qua là trắng ba đêm
Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn
Một vai gánh lấy giang san...
Một vai nữa gánh muôn vàn nhớ thương
Mắt quầng tóc rối tơ vương
Em còn cho chị lược gương làm gì!
Một lần này bước ra đi
Là không hẹn một lần về nữa đâu
Cách mấy mươi con sông sâu
Và trăm ngàn vạn nhịp cầu chênh vênh
Cũng là thôi cũng là đành
Sang sông lỡ bước riêng mình chị sao?
Tuổi son nhạt thắm phai đào
Đầy thuyền hận, có biết bao nhiêu người!
Em đừng khóc nữa em ơi!
Dẫu sao thì sự đã rồi, nghe em!
Một đi bảy nổi ba chìm
Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần
Dù em thương chị mười phần
Cũng không ngăn nổi một lần chị đi
Chị tôi nước mắt đằm đìa
Chào hai họ để đi về nhà ai
Mẹ trông theo, mẹ thở dài
Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran
Tôi ra đứng tận đầu làng
Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa...
Trời mưa ướt áo làm gì?
Năm mười bảy tuổi chị đi lấy chồng
Người ta pháo đỏ rượu hồng
Mà trên hồn chị một vòng hoa tang
Lần đầu chị bước sang ngang
Tuổi son sông nước đò giang chưa tường
Ở nhà em nhớ mẹ thương
Ba gian trống, một mảnh vườn xác xơ
Mẹ ngồi bên cửi xe tơ
Thời thường nhắc: "- Chị mày giờ ra sao?"
Chị bây giờ... nói thế nào?
Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang
Chị từ lỡ bước sang ngang
Trời dông bão giữa tràng giang lật thuyền
Xuôi dòng nước chảy liên miên
Đưa thân thế chị tới miền đau thương
Mười năm gối hận bên giường
Mười năm nước mắt bữa thường thay canh
Mười năm đưa đám một mình
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên
Mười năm lòng lạnh như tiền
Tim đi hết máu mà duyên không về
Nhưng em ơi! một đêm hè
Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn
Dừng chân trên bến sông buồn
Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang
Đoái thương thân chị lỡ làng
Đoái thương phận chị dở dang những ngày
Rồi... rồi chị nói sao đây?
Em ơi! nói nhỏ câu này với em...
Thế rồi máu trở về tim
Duyên làm lành chị duyên tìm về môi
Chị nay lòng ấm lại rồi
Mối tình chết đã có người hồi sinh
Chị từ dan díu với tình
Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng
Tim ai khắc một chữ "nàng"
Mà tim chị một chữ "chàng" khắc theo
Nhưng yêu chỉ để mà yêu
Chị còn dám ước một điều gì hơn ...
Chị giờ sống cũng bằng không
Coi như chị đã ngang sông đắm đò.
Nguyễn Bính (1918-1966) làm thơ từ năm 13 tuổi, bài thơ đầu tiên của ông được đăng báo là bài "Cô hái mơ". Năm 1937, Nguyễn Bính đã được Tự lực văn đoàn trao giải thưởng cho tập thơ "Tâm hồn tôi" của ông. Trong khoảng thời gian ba năm, ông đã cho ra đời 7 tập thơ như "Tâm hồn tôi" (1940), "Hương cố nhân (1941)" "Người con gái ở lầu hoa" (1942), "Mười hai bến nước" (1942), "Mây Tần" (1942) và tác phẩm được chú ý nhất là "Lỡ bước sang ngang" (1939)…
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...
(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh) Bài thơ này có nhiều dị bản truyền tụng khác nhau, đây đã được xác nhận là bản
gốc. Bài thơ này đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc như Dzũng Chinh, Phạm Duy, Anh
Bằng, Duy Khánh, Nguyễn Đặng Mừng, Thu Hồ, Hồng Vân... Vợ tác giả tên thật là Lê Đỗ Thị Ninh, là con gái cụ Lê Đỗ Kỳ. Lê Đỗ Kỳ cùng
công tác tại Uỷ ban tỉnh Thanh Hoá sau Cách mạng tháng Tám với Hữu Loan. Cụ Kỳ
nguyên là Chánh Thanh tra Lâm nghiệp toàn Đông Dương. Cụ Kỳ có nhiều con trai
là sỹ quan quân đội Nhân dân VN nổi tiếng: Con trai cả là Lê Đỗ Khôi, hy sinh
tại Điện Biên Phủ 5 tiếng đồng hồ trước khi quân ta cắm cờ trên sở chỉ huy của
Pháp. Tiếp đó là Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Hồng Cư. Em ông Cư là Lê Đỗ An,
tức Nguyễn Tiên Phong, sau là Bí thư Trung ương Đoàn TNCS HCM. Em ông Nguyên là
Đại tá Lê Đỗ Thái. Hai ông Hồng Cư và Lê Đỗ Thái hiện sống ở Hà Nội và đều lấy
con gái GS. Đặng Thai Mai. Nguồn: Màu tím hoa sim, NXB Văn học, 1990
Đến nay, Màu tím hoa sim được xem là một trong những
bài thơ tình hay nhất của thế kỷ 20 và là bài thơ đầu tiên được mua bản quyền bởi
một doanh nghiệp với giá 100 triệu đồng. Nhưng quanh sự kiện này, cũng không ít
độc giả còn thắc mắc về bản cũ và bản mới chỉnh sửa sau này của bài thơ. Tại Sài Gòn, trước năm 1975, giới văn nghệ sĩ cũng như đông đảo bạn đọc yêu
thích thơ nhạc đều rất quen thuộc với bài Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu
Loan. Tuy bấy giờ tác giả đang sống ngoài Bắc, nhưng tác phẩm ấy đã chiếm một
chỗ đứng trong lòng người yêu thơ miền Nam. Bài thơ được giới thiệu không những
qua sách báo, mà còn được phổ nhạc, hát rộng rãi trên đài phát thanh, các buổi
trình diễn văn nghệ trên sân khấu đương thời, nhất là vào những năm thập niên
60 của thế kỷ 20. Bản Màu tím hoa sim thời ấy ngắn hơn bản tác giả công
bố sau này. Nghĩa là dừng lại, chấm hết ở mấy câu: “Tôi hát trong màu hoa.
Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu” chứ không có
thêm “Tôi ví vọng về đâu. Tôi với vọng về đâu. Áo anh nát chỉ dù lâu...”
ở cuối bài như sau này. So với bản Màu tím hoa sim "nay" thì bản "xưa" tuy
ngắn hơn nhưng ý thơ đi rất trọn nghĩa, trọn tình, không trúc trắc, không khiến
người đọc phải dừng lại suy nghĩ. Nhà thơ có quyền sửa thơ của mình, hoặc thêm
vào những đoạn mới. Song về phía những độc giả đã cảm nhận, yêu thích, hoặc có
những kỷ niệm gắn bó với Màu tím hoa sim theo bản cũ thì khó "làm
quen" với những đoạn mới, chữ mới, với hơi thơ có vẻ xa lạ với bài thơ từng
biết. Do vậy, một số độc giả đã tỏ ra tâm đắc với bài Màu tím hoa sim
trước kia. Nhưng dù Màu tím hoa sim bản "xưa" hay
"nay" vẫn chỉ để viết về một người, một mối tình. Đó là người vợ trẻ Đỗ Thị Lệ Ninh đã mất sau ngày cưới không lâu vì chết đuối.
Các anh của "nàng", theo tài liệu của Hàn Anh Trúc là 3 người có thực
ở chiến trường Đông Bắc. Đó là Đỗ Lê Khôi - tiểu đoàn trưởng hy sinh trên đồi
Him Lam, Đỗ Lê Nguyên nay là Trung tướng Phạm Hồng Cư và Đỗ Lê Khang - nguyên
Thường vụ Trung ương Đoàn. Hữu Loan kể và Hàn Anh Trúc ghi lại trong một cuốn
biên khảo văn học rằng, bố vợ ông trước kia làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn
nên “vợ mình sinh ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má”, bài thơ mới có câu “má
tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối”. Hàn Anh Trúc viết là Hữu Loan sáng tác
bài thơ ngay tại mộ người vợ trẻ, rồi: “ghi vào chiếc quạt giấy để lại nhà một
người bạn ở Thanh Hóa. Bạn anh đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm
chiến tranh”. Điều đó đã được chính nhà thơ Hữu Loan xác nhận.
Xin trân trọng giới thiệu tới quý vị Bài thơ Kết nạp Đảng trên quê mẹ- Sáng tác: Chế Lan Viên.NSND Châu Loan ngâm .
Giã mẹ ra đi kháng chiến bốn phương trời
Kết nạp Đảng, bỗng quay về quê mẹ!
Có phải quê hương gọi ta về đấy nhỉ?
Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm
Trong buổi đầu, ta theo Đảng đi lên
Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác
Những vật vô tri cũng làm rưng nước mắt
Đá sỏi cây cằn, sao bỗng thấy thiêng liêng?
Giọng nói quen nghe, màu đất quen nhìn
Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết!
Tôi cúi đầu nghe, dặt dìu, tha thiết
Cây cỏ trời mây, kẻ mất người còn
Trong mơ hồ, trăm tiếng của quê hương
Tiếng mẹ bảo bên tai: "Con hãy nhớ
Bà con quê ta đói nghèo lam lũ
cuộc sống xưa như nước chảy mất dòng
Không ai thương như cỏ nội giữa đồng
Con chim bỏ trời quê ta đi xứ khác
Đất chẳng nuôi người, người không nuôi nổi đất
Chiếc khăn xanh mẹ bịt ở trên đầu
Đã từng che hai thứ tóc buồn đau
Mẹ trông ở đời con... Con hãy gắng
Con đi đi... Từ nay con có Đảng"
Tôi nhìn ra thấy máu thịt quê hương
Như đang dâng thành núi lại thành cồn
Ôi gió Lào ơi! ngươi đừng thổi nữa
Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ
Những đồi sim không đủ quả nuôi người
Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười
Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng
Của đồn giặc mấy năm trời chiếm đóng
Đảng kính yêu! Tôi tìm Đảng giữa nơi này
Như chờ vang tiếng sét xé trời mây...
Tôi đứng trước Đảng kỳ, rưng mắt lệ
Phút mơ ước, sao thiếu hình bóng mẹ?
Giặc bao vây ngăn lối chặn đường
Thiếu cả gia đình ngay giữa đất quê hương!
Mẹ ơi! mẹ không là đồng chí
Nhưng Đảng kỳ đây chính là của mẹ
Đời khổ đau mẹ đứng dưới cờ này
Mẹ đói nghèo, hàng ngũ bên con đây
Mẹ xem, con mặc áo nâu sồng xưa mẹ mặc
Mai con hát khúc bình dân xưa mẹ hát
Đảng mến yêu, có phải mẹ giới thiệu con vào?
Từ buổi dạy con lòng thương ghét ban đầu
Tự quê mẹ nghèo, tự đời mẹ khổ
Tự giọt lệ khóc tù đi biệt xứ
Tự nắm cơm khô đưa cán bộ thoát làng
Từ tiếng thét căm thù vì giặc giã, vua quan
Tưởng như cả quê hương giới thiệu tôi vào Đảng
Rẫy bắp, vườn tiêu, bờ tre, bãi sắn
Những đồi tranh ăn độc gió Lào
Cả trại tù Lao Bảo chốn rừng sâu
Ôi tiếng đầu tiên gọi ta "đồng chí"
Là tíeng quê hương ấm lành Quảng Trị
Những đảng viên đầu tiên đứng sát bên tôi
Là bạn thuở nhi đồng áo vá cơm khoai
Tôi đứng dưới cờ, đưa tay tuyên thệ
Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ
Ngỡ chừng như vừa sinh lại lần đầu
Đảng trở thành nơi cắt rốn chôn rau
Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002
A
i
cũng có một miền quê thân thương nơi sinh ra và lớn lên ở đó. Cũng có
khi đó là cái gốc, là cội nguồn gia đình, gia tộc để từ đó ra đi và
trưởng thành.
Trong
những năm đánh Mỹ, do hoàn cảnh tạm thời chia cắt, nhiều nhà văn tập
kết miền Nam, đã phải xa cách quê nhà. Tưởng hai năm mà đằng đẵng gấp
mười lần thế.
Đây cũng là thời nổi lên trong văn học, một dòng thơ văn - tạm gọi là thơ văn đấu tranh thống nhất. Tế Hanh nổi tiếng với Con sông quê hương, Xuân Diệu day dứt một nỗi niềm Nhớ quê Nam trong đó có sông Gò Bồi, có tháp Chàm Bình Định…, còn Tố Hữu có Quê mẹ là tiếng hát của tình thương yêu, tôn vinh người mẹ gắn kết máu thịt với quê hương và cách mạng.
Chế
Lan Viên cũng là nhà thơ miền Nam, có quê Nam. Bởi Quảng Trị và Bình
Định nằm ở phía bên kia giới tuyến. Thực ra là hai quê hương nhưng tạm ở
một miền. Tiểu sử ghi ông sinh ở Cam Lộ, Quảng Trị. Đến năm 1927 gia
đình chuyển vào An Nhơn, Bình Định. Theo dòng sáng tác, Chế Lan Viên
được coi là người viết sớm nhất cho dòng văn học đấu tranh thống nhất: Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm (1952) được in trong Gửi các anh.
Điều
đặc biệt với Chế Lan Viên là quê hương sinh thành cũng là vùng quê sáng
tác. Nơi đó là dấu ấn sâu đậm cuộc đời mà cũng là mảnh tâm hồn thắm
thiết trong đời thơ. Ngay cả ở Hội An, một đô thị cổ, nơi Chế Lan Viên
đã có ít tuổi thơ ở đó (sáu, bảy tuổi), mà cũng sâu nặng tình yêu Hội
An Chẳng là quê/ Mà là hương khổ thế! (Hội An) "Hương chùa hay hương tóc" đã quyện thành "hương người", "hương quê".
***
Quảng Trị, Bình Định, hai miền quê hương ruột thịt nổi lên như mảnh hồn thơ sáng láng Chế Lan Viên.
Thực
ra Quảng Trị chỉ là quê hương thuở ấu thơ. Nhưng sau này, đây lại là
địa bàn hoạt động của chàng thanh niên yêu nước sôi nổi trong kháng
chiến. Ở chiến trường Bình Trị Thiên, tính ác liệt lại như tăng gấp bội
vì là vùng đất nghèo sỏi đá trong vùng kìm kẹp của kẻ địch. Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm (1952)
là những giọt nước mắt lặn vào bên trong, nhớ thương bà mẹ đẻ cũng là
bà mẹ chiến sĩ. Bài thơ thành thật cảm động khiến người đọc chảy nước
mắt.
Nay mẹ bị cầm chân nơi đất giặc
Bốn phía là gươm, bốn bề là sắt
Mẹ mến thương ơi! Con mẹ đây rồi!
Nhưng mắt con không khóc nữa
Chừ có khóc cũng khóc thành ra lửa
Có ngã đau cũng dậy cho mẹ cười
Con sống hiên ngang và nếu chết sẽ nên đời.
Thương mẹ, nhớ quê, hẹn ngày kháng chiến thành công: Con sẽ lại khóc ròng / mẹ sẽ thương hơn.
Kết nạp Đảng trên quê mẹ là
bài thơ đặc sắc, nặng tình, nặng nghĩa. Hình và tình cùng chói sáng lên
một lúc, tình cảm và trí tuệ được đốt cháy đồng thời để thành ngọn lửa
thơ toả sáng. Cả một vùng quê, một miền đất từ Thanh - Nghệ - Tĩnh đến
Bình - Trị - Thiên được tái hiện bằng ngôn từ bình dị, hình ảnh mộc mạc
mà rất hiện thực. Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ/ Những đồi
sim không đủ quả nuôi người/ Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười. Chỉ
tiếng gió mù trời chen tiếng súng… Gió Lào như đốt nóng thêm cả vùng
lửa bỏng và gan ruột nhà thơ. Quê hương đói nghèo, gian khó nhưng anh
dũng. Bài thơ được dựng bằng kỷ niệm, hồi ức và liên tưởng suy tư. Nhà
thơ tưởng tượng đau đớn! Tôi nhìn ra thấy máu thịt quê hương/ Như đang dâng thành núi, dựng thành cồn. Con người đã từ trong đau thương ấy mà vùng lên. Nhà thơ được kết nạp Đảng ngay Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ. Cái
hay của bài thơ là sự kết hợp tuyệt đẹp riêng và chung trong tâm hồn
thơ. Có những hình tượng bản thân là loại hình tượng kép: Mẹ - Quê hương, Mẹ - Đồng chí … Mẹ không là đồng chí/ Nhưng Đảng kỳ đây chính là của mẹ và cao hơn cả: Mẹ - Đảng.
Tôi đứng dưới cờ đưa tay tuyên thệ
Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ
Ngỡ chừng như vừa sinh lại lần đầu
Đảng trở thành nơi cắt rốn chôn rau.
Tình
mẫu tử thiêng liêng, tình quê hương sâu nặng, tình Đảng cao quý như
quyện chặt lấy nhau. Nghĩ về mẹ cùng lúc nghĩ đến quê hương và Đảng hay
chu trình ngược lại đều là những con đường của tình cảm và trí tuệ gắn
bó. Bài thơ đã tổng kết một quá trình tư tưởng cách mạng, khái quát một
triết lý sâu sắc về lẽ sống và lý tưởng cùng với đúc kết lại một hành
trình tình cảm đạo lý. Sự từng trải trên quê hương từ những năm đầu
kháng chiến đã tạo nên tự hào, vinh dự cho đứa con thân yêu: Ơi kháng
chiến! Mười năm qua như ngọn lửa / Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường/
Con đã đi nhưng còn vượt nữa/ Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương (Tiếng hát con tàu).
Quê hương Quy Nhơn - Bình Định lại là nguồn kỷ niệm thân thương, tha thiết nữa, nhưng quan trọng đó là cái nôi cho một thi tài.
Chính
ở Quy Nhơn mà Chế Lan Viên đã viết bài thơ đầu tiên, ra tập thơ đầu
tiên. Nhưng biết bao cảnh, bao người, bao sự việc đã giúp Chế Lan Viên
nên người, nên văn ở đấy. "Theo tôi nghĩ thì những cái xa văn, ngoài văn
có khi mở đầu cho việc yêu văn". Cũng theo Chế Lan Viên, ngoài việc lấy
văn nuôi văn là chuyện khác, bàn sau, còn "Cái chỉ là thơ thôi, giết
chết thơ" như một nhà thơ nước ngoài đã nói như vậy. Và đây là hoàn cảnh
độc đáo và sức mạnh truyền cảm tạo hồn thơ cho Chế Lan Viên .
"Cho
tôi biết ơn cái tháp Chàm và thành Bình Định cũ, biết ơn cái huyện lỵ
An Nhơn hẻo lánh và những chuyến tàu đêm Bình Định - Diêu Trì; biết ơn
bờ biển Quy Nhơn vỗ sóng ru tôi và những rừng dừa từng rợp bóng lên tôi.
Cành dừa cao say sưa ôm bóng ngủ, chính là dừa ấy chứ còn đâu?"
Làm
thơ phải có chữ nghĩa - tất nhiên - nhưng rất cần là một không gian văn
hoá. Đó là vùng đất từng lẫy lừng Chàng Lía, Mai Xuân Thưởng, Quang
Trung. Lòng yêu nước mơ hồ qua nỗi đau mất nước ở Điêu tàn cũng bắt nguồn từ đấy. Có những cảnh - tình được nhà thơ phân tích từ rất xa: "Chả
lẽ lại nói là những kiểu kiến trúc đặc biệt của nhà lá mái, cửa bàn
khoa Bình Định, hay cái vòng quay kiên trì, triền miên của các xe nước
ngoài Quảng Ngãi đã cho tôi sự chịu khó trong thơ. Nhưng quả là những
đêm hát bội ở An Vinh, các cuộc đổ giàn ở An Thái làm cho tôi yêu chất
hùng tráng"… "Chất hùng ca trong thơ làm sao không dính líu với các cuộc
đổ giàn thượng võ này?". Những câu thơ đánh Mỹ ?... Kinh Đại tạng xé theo súng 12 ly 7 … Những năm chiến tranh mặt Chúa cũng sầu thương … Mặt Phật không cười cùng hoa sen nữa thực ra đó là sự biến hoá yếu tố thần bí … "trong tiếng tụng kinh trước bàn thờ phật" của ông bố và "tầm ngân vang của chuông nhà thờ đạo Kim Châu" gần nhà. Chế Lan Viên đã truyền cái kinh nghiệm giản đơn mà sâu sắc: "Làm thơ chỉ biết có thơ thôi, không được. Làm thơ với trái tim, với chất sống, không đủ. Phải có văn hoá nữa"(Bước đầu của tôi).
Sau
này, Chế Lan Viên còn nhiều dịp nhớ lại vùng quê hương này của mình
nhưng với những tình cảm suy tư đã có nhiều đổi khác. Có gì như day dứt
hơn trong hoài niệm, lại có gì ngỡ ngàng trong hồi tưởng và không kìm
nén được những hy vọng thiết tha, những trầm tư, suy nghiệm mang ý vị
triết lý đời người và cả đời thơ.
Những năm nao còn là tưởng vọng và hy vọng về mẹ, về quê và con đường thống nhấtChắp đường Nam Bắc con thăm mẹ. Vẫn tấm lòng quê vời vợi suốt bao nhiêu năm xa cách (Hoa quê mình, Nhớ tuổi thơ…)
Ngày thống nhất về lại thăm quê bao tình cảm vui buồn xáo trộn: nhớ,
thương, mừng tủi, ngỡ ngàng như vừa quen vừa lạ, đã gần lại hoá xa nhất
là nhớ về mẹ, nhớ về bạn cũ, trường xưa. Có nghịch cảnh trớ trêu. Nỗi
vui đoàn tụ và nỗi đau chiến tranh, mất mát chung và thiệt thòi bản
thân. Một đời xa cách mẹ, miếng ngon qua miệng nhưng nước mắt chan cơm:
Ừ thế đó một đời xa cách mẹ
Ba mươi năm trở lại nhà, nước mắt xuống mâm cơm
Mẹ mất, bạn thiếu thời chẳng còn ai Nền nhà nay dựng có quan mới. Tâm
trạng thấy vật đổi sao dời là của muôn năm. Tứ thơ có cái gì giống với
Nguyễn Du khi trở về Thăng Long than thở khi thấy nhà lớn đã biến thành
đường cái, lại hao hao với cảm giác Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương với những câu mở đầu tương tự Khi đi trẻ, lúc về già và Trở lại An Nhơn tuổi lớn rồi.(Trở lại An Nhơn). Nhưng cảnh cũ đã mất lại gây nghịch cảm trong lòng: Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người. Có
lẽ xa xót nhất, đau đớn nhất trong tâm tư Chế Lan Viên là nỗi nhớ
thương mẹ và cũng là lòng ngưỡng mộ bà mẹ dân dã mà cao cả. Ấy là bà mẹ
hiện hình từ trong Đêm giao thừa (Bình Định - 1937) mà sau này chỉ còn
là di ảnh trong hoài niệm của nhà thơ rất nhiều lần, suốt đời người Gửi
mẹ trong vùng giặc chiếm (Gửi các anh) Mẹ (Ánh sáng và phù sa), Chiêm
bao gặp mẹ, Vườn mẹ không hoa, Cây mai vườn thống nhất (Đối thoại mới),
Canh cá tràu (Hái theo mùa), Mẹ dân dã (Ta gửi cho mình) và những bài trong Di cảo thơ II, III, Thăm mộ mẹ, Hái trên trời…
Bởi vì hình ảnh Mẹ đã quấn quyện với Quê hương và Đất nước từ lâu trong hồn thơ tha thiết thảo hiền đằm thắm Chế Lan Viên.
Một thời là
bài thơ nói hoàn chỉnh về nỗi niềm nhớ quê hương và người thân của Chế
Lan Viên, xuất hiện vào những năm cuối đời (khoảng 1987 - 1988). Mở đầu
là Những trưa hè… Nhớ thành Bình Định xưa, căn nhà im phăng phắc… và sau đó là cảnh gia đình cha, mẹ và các anh chịCòn tôi thả hồn lên những đầu cây/ Chờ thơ và đón bắt… Thế mà bây giờ, thật đau xót: Nay mộ mẹ ở Đông Hà, mộ cha trên núi/ Mộ chị Ba ở rừng cao su sẩm tối/ Chị Tư heo hút một mình…Nhưng nhà thơ chấp nhận quy luật Thời gian không thể hoá thành dòng sông chảy ngược/ Cho ta về với những ngày…
Chế
Lan Viên đau đáu một đời với quê hương với gia đình, người thân, với mẹ
già sống đau khổ nhẫn nại và bền bỉ dũng cảm ở vùng quê. Đó là một tình
cảm tự nhiên tha thiết và nhân hậu, thuỷ chung một đời. Thơ về quê - cả
hai vùng - đều thắm thiết cho đến tận trước khi từ giã cõi đời này. Bởi
đó là máu thịt của hồn thơ, là sự thể hiện bằng lời hay, ý đẹp một tình
cảm cao quý, thiêng liêng của con người biết sống trọn tình, vẹn nghĩa.
(*) Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
(Những ngôi nhà đồ sộ ngày xưa, nay thành đường cái